Nhưng bà không “chờ” tôi mãi được. Tôi tốt nghiệp, được tuyển dụng trở lại nơi tôi học để làm giáo viên. Mấy tháng sau, ngày 17 tháng 8 (nhuận) năm Bính Thìn (1976) bà lặng lẽ về với tổ tiên. Hôm đó bà ở nhà bà Mai, sau khi ăn tối xong, bà kêu mệt, đi nằm và bảo: tao chết đây!. Rồi mấy tiếng sau bà bình thản ra đi. Không ai điện cho tôi cả, chỉ viết thư, tôi về, cỏ trên mồ đã mọc, cửa nhà thì hoang lạnh. Tôi vô cùng đau đớn. Lúc đó tôi thấu hiểu thế nào là nỗi cô đơn. Tôi nhìn xuống hai bàn tay và chợt nhận ra rằng đôi tay tôi đã tự kiếm được tiền để nuôi sống mình. Tôi hiểu như vậy là công việc trên trần gian mà Trời Phật giao cho bà coi như đã xong, bà yên lòng về với tổ tiên, không căn dặn điều gì, không phiền nhiễu đến ai, không cần ai chăm sóc. Đối với tôi, những điều cần căn dặn bà đã căn dặn rồi. Tính cách của bà ảnh hưởng rất lớn đến tính cách của tôi, mà thứ lớn nhất là lòng nhân ái của bà. Nó dường như đã trở thành hành trang quý giá cho tôi mang theo trên bước đường đời.
Khi nghĩ về bà, tôi thường liên tưởng đến câu thơ của Nguyễn Duy:
... Tôi trong suốt giữa hai bờ hư - thực
giữa bà tôi và tiên phật thánh thần...
Điều day dứt lớn nhất của tôi là tôi chưa kịp chăm sóc bà, những đồng tiền tôi kiếm được chưa mua cho bà được đồng quà tấm bánh nào. Trên thế gian này có người chối bỏ nghĩa vụ chăm sóc ông bà cha mẹ, có người, chăm sóc ông bà cha mẹ chỉ là … ước mơ!
Tôi viết những dòng này như một nén tâm nhang, thắp lên trong ngày giỗ bà. Tôi chỉ muốn nói với bà rằng 39 năm qua tôi đã cố gắng làm theo những điều bà khuyên bảo và mong muốn. Ước gì trên trời cao bà đang rất vui lòng.







