Mỗi khi thở ra, luồng hơi từ miệng tôi tạo ra một làn khói trắng đục. Trời rét như trong một tối tháng Mười một ở quê tôi vậy. Hồi đó tôi, một tay xách đèn lồng, thường lẻn vào rừng để đến gặp Gale ở một nơi hẹn trước. Chúng tôi ngồi bó gối cùng nhau, hớp những ngụm trà thảo mộc từ chiếc bình dẹt bằng kim loại có phủ bông bên ngoài, hy vọng sẽ tóm được một con mồi khi bầu trời sáng dần. Ôi Gale, tôi nghĩ. Giá như lúc này anh ở cạnh tôi...
Tôi đi nhanh hết sức. Cặp kính đêm thật hiệu nghiệm, nhưng việc mất khả năng nghe bên tai trái vẫn khiến tôi khó chịu. Tôi không biết vụ nổ gây ra những gì, nhưng nó đã phá hỏng thứ gì đó ở sâu bên trong đến độ không thể khắc phục. Kệ nó. Nếu có thể trở về nhà, tôi sẽ giàu sụ, sẽ có thể thuê ai đó chữa lành tai cho mình.
Rừng luôn rất khác vào ban đêm. Ngay cả khi có kính, trông mọi thứ vẫn không mang dáng vẻ quen thuộc. Như thể cây cối, cỏ hoa và sỏi đá của ban ngày đã yên giấc ngủ, thay vào đó là bản sao u ám hơn của chúng. Tôi không chọn cách mạo hiểm, như tìm lối đi tắt chẳng hạn. Tôi trở lại con suối và theo đường cũ đến nơi ẩn náu của Rue cạnh hồ. Suốt dọc đường, tôi không hề thấy dấu vết của các đấu thủ khác, không một hơi thở, không một tiếng cây cối lao xao. Hoặc tôi là người đầu tiên đến đó, hoặc chúng đã đến từ tối qua. Vẫn còn một hai tiếng đồng hồ nữa khi tôi len được vào bụi rậm, chờ đợi cuộc chém giết bắt đầu.
Tôi nhai vài lá bạc hà lót dạ, dạ dày tôi không cồn cào lắm. Ơn trời, tôi có chiếc áo khoác của Peeta. Không có nó chắc giờ này tôi đang phải đi lòng vòng để giữ ấm mất. Bầu trời chuyển sang màu xam xám của sương sớm và ngoài kia vẫn chưa có dấu hiệu gì của bọn chúng. Thực sự không có gì bất ngờ. Mỗi người đều có điểm nổi bật về sức mạnh, về sự hiểm độc hay gian xảo. Liệu chúng có nghĩ rằng tôi có Peeta đi cùng không? Liệu Mặt cáo và Thresh còn biết cả việc Peeta đã bị thương? Tốt hơn hết là chúng nên nghĩ rằng Peeta sẽ yểm trợ khi tôi đến lấy chiếc ba lô.
Nhưng chiếc ba lô ở đâu nhỉ? Đấu trường đã đủ sáng nên tôi tháo chiếc kính đêm. Tôi nghe thấy tiếng bầy chim hót chào ngày mới. Là lúc này chăng? Bỗng dưng, tôi lo sợ mình đến sai chỗ. Nhưng không, tôi nhớ chắc chắn Claudius Templesmith nói cụ thể là Cornucopia. Và nó đây.
Và tôi đang ở đây. Vậy bữa phá cỗ của tôi đâu?
Ngay khi tia nắng đầu tiên dát vàng Cornucopia, cả khu đất bỗng nhiên rung động. Mặt đất trước miệng chiếc sừng tách ra làm hai và một chiếc bàn tròn phủ vải trắng xóa nhô lên khỏi trường đấu. Trên bàn là bốn chiếc ba lô, hai chiếc màu đen lớn có số 2 và 11, một chiếc màu xanh cỡ vừa có số 5, và một chiếc màu cam nhỏ xíu, chỉ cần ngoắc cổ tay tôi cũng mang nó theo được, được đánh số 12.
Chiếc bàn vừa nhô lên khỏi mặt đất thì một bóng người phóng như bay khỏi Cornucopia, giật lấy chiếc ba lô xanh và bỏ chạy. Mặt cáo! Cái ý tưởng của nó thật tinh ranh và táo bạo! Trong khi những kẻ còn lại đang phủ phục quanh bãi đất, cân nhắc tình thế thì nó đã lấy được thứ mình cần. Chúng tôi còn mắc vào bẫy của nó, bởi không ai muốn đuổi theo một đấu thủ khác, khi mà túi của mình còn đang nằm chơ vơ trên bàn. Mặt cáo hẳn đã cố tình để lại những chiếc túi khác, bởi biết rằng lấy cắp một cái túi nào đó không phải số của mình thì sẽ kéo theo rắc rối. Tôi phải chọn chiến thuật đó mới đúng! Lẫn lộn trong một mớ những ngạc nhiên, ngưỡng mộ, giận dữ, ghen tị và hụt hẫng, tôi nhìn con bé tóc đỏ biến vào bụi cây, mất hút ngoài tầm bắn. Hừ. Tôi lúc nào cũng lo sợ những kẻ khác, nhưng có khi Mặt cáo mới là đối thủ đáng gờm thực sự.
Nó còn làm tôi mất thời gian, bởi lúc này rõ ràng tôi buộc phải tiếp cận chiếc bàn ngay. Bất kỳ ai đến trước cũng có thể túm lấy cái túi của tôi và chạy mất. Không do dự, tôi phóng tới mục tiêu. Tôi có thể cảm thấy điều không ổn trước khi giáp mặt với nguy hiểm thực sự. May mắn thay, con dao đầu tiên rít lên rượt qua phía bên phải nên tôi nghe thấy và kịp thời gạt nó bằng cây cung. Tôi quay lại, giương cung và bắn thẳng vào ngực Clove. Con bé né kịp, thoát chết trong gang tấc nhưng cẳng tay trái vẫn dính tên. Đáng tiếc là nó phi dao bằng tay phải, nhưng điều đó cũng







